6. Được ứng dụng làm vật liệu mang, dẫn truyền thuốc. PLA có khả năng tương thích sinh học cao, khả năng phân hủy, xử lý nhiệt và có độ bền cơ học cao. Độ hòa tan trong các dung môi hữu cơ nên được sử dụng nhiều trong vật liệu dẫn truyền thuốc.
Vật liệu bán dẫn là gì? 1. Đặc tính của vật liệu bán dẫn; 2. Vật liệu bán dẫn trong cuộc sống hàng ngày; 3. Vật liệu bán dẫn - Silicon (Si) 4. Lịch sử của vật liệu bán dẫn; 5. Mạch tích hợp (IC) 6. Danh sách các linh kiện bán dẫn phổ thông Quy trình sản xuất bán dẫn. 1.
Vật liệu cách điện được sử dụng rộng rãi trong các ứng dụng kỹ thuật điện là- cao su, giấy, thủy tinh, gỗ, nhựa, mica, sứ, polyester, SF6, dầu khoáng, khí nitơ, v.v. Đối với chất bán dẫn (silicon, gecmani…), tương tự như chất cách điện, điện trở của nó sẽ giảm xuống khi nhiệt độ tăng, tức là độ dẫn điện tăng lên.
Giá: Liên hệ , Ống dẫn hóa chất chịu axit chịu nhiệt độ cao, ĐIÊN MÁY GIA LONG, Cần bán/Dịch vụ chuyên mục Vật tư, vật liệu công nghiệp tại Huyện Gia Lâm - Hà Nội - 2017-05-29 20:32:34
MỘT SỐ VẬT LIỆU XÂY DỰNG PHỔ BIẾN. Vật liệu Hệ số dẫn nhiệt k. Chỉ số R per inch. + Mạt cưa 0.41 - 0.059 2.4 + Dăm gỗ 0.41 - 0.059 2.4 + Ngói 0.40 - 0.058 2.5 + Nhựa đường 0.43 - 0.620 2.3 + Bê tông (tỷ trọng D=140 pound/cubic foot) 9.70 - 1.399 0.1 + Vải vụn (tỷ trọng D=6 pcf) 0.42 - 0.060 2.4 + Kính thủy tinh 9.70 - 1.399 0.1
Cấu trúc nano giúp cải thiện độ bền của loại vật liệu này Cấu trúc nano, tùy thuộc vào cách chúng được sắp xếp, có thể mang lại cho vật liệu những đặc tính độc đáo như độ nhẹ và khả năng phục hồi đặc biệt. Nhóm nghiên cứu bắt đầu tìm hiểu về loại vật liệu này trong các điều kiện biến dạng nhanh như tác động của tốc độ cao.
82uSuSy. Siêu dẫn là sự biến mất hoàn toàn của điện trở của vật liệu khi được làm lạnh dưới nhiệt độ chuyển pha siêu dẫn TC. Hiện tượng siêu dẫn dựa trên việc tạo ra các cặp điện tử tương hỗ với nhau, thông qua tạo thành các cặp gọi là gặp Cooper để chuyển dời trong vật liệu mà không bị cản trở không có điện trở. Hiện tượng này được miêu tả trong lý thuyết Bardeen-Cooper-Schrieffer BCS về hiện tượng siêu dẫn nhiệt độ thấp, ở đó các cặp Cooper được nhờ việc liên kết các điện tử với nhau thông qua trao đổi các phonon hạt trường của dao động mạng tinh thể. Tuy nhiên, lý thuyết BCS không thể lý giải được các tính chất của các chất siêu dẫn nhiệt độ cao, được khám phá từ năm 1986 giá trị nhiệt độ chuyển pha cao nhất hiện nay đạt tới 138 K, và các hợp chất này hầu hết đều là các hợp chất của đồng cuprates chứa các mặt phẳng song song của ôxit đồng mà ở đó các nguyên tử đồng nằm trên một mạng hình vuông và điện tích được mang bởi các lỗ trống ở vị trí của Ôxi. Mỗi nguyên tử đồng sẽ có một điện tử không kết cặp và do đó các nhà nghiên cứu tin rằng mômen từ hay spin liên kết với nhau sẽ tạo ra tính chất siêu dẫn trong các vật liệu này. Hình 1. Cấu trúc tinh thể và phổ nhiễu xạ tia X của vật liệu J. Am. Chem. Soc. 130 3296. Mới đây, Hideo Hosono cùng các cộng sự ở Viện Công nghệ Tokyo Nhật Bản lần đầu tiên khám phá ra một vật liệu siêu dẫn nhiệt độ cao có nhiệt độ chuyển pha 26 K được dựa trên các hợp chất của sắt -Fe có thể xem các kết quả này trên J. Am. Chem. Soc. 130 3296. Đây là hợp chất LaOFeAs chứa các lớp của Lanthanum La Ôxi O bị kẹp giữa bởi các lớp của Sắt Fe và Arsenic As – và bị pha tạp thêm các ion Fluoride. Các nhà nghiên cứu hi vọng có thể tăng được nhiệt độ chuyển pha cao trên 26 K bằng cách thay đổi các quá trình xử lý vật liệu ví dụ như đặt áp suất…. Các nghiên cứu sơ bộ ban đầu về vật liệu này đã giả thiết tính chất siêu dẫn xảy ra trong vật liệu không thuộc loại trung gian phonon phonon-mediated như được kỳ vọng từ lý thuyết cổ điển BCS, nhưng có thể không giống như được dự đoán trong các hợp chất siêu dẫn nhiệt độ cao kiểu “cuprates”. “Ai đó có thể cho là tính siêu dẫn trong các vật liệu kiểu này là trung gian phonon trong các vật liệu siêu dẫn nhiệt độ thấp,” – Kristjan Haule, một nhà vật lý lý thuyết ở Đại học Rutgers Mỹ đang làm việc trong một nhóm cũng đang nghiên cứu về loại vật liệu này. “Tuy nhiên, chúng tôi đã tiến hành các tính toán bằng lý thuyết phiếm hàm và giả thiết rằng TC hầu như phải xung quanh 1 K nếu như các phonon có chức năng đó”. Nhóm của Haule đã tính toán được rằng các hợp chất không pha tạp LaOFeAs có tính kim loại rất tồi ở nhiệt độ thấp và hầu như là một chất cách điện. Haule nói trên “Đây là một bằng chứng mạnh mẽ để nói rằng tính siêu dẫn không phải được trung gian bởi các phonon, tính chất đòi hỏi phải ở trạng thái kim loại rất tốt với các hạt tải kết hợp”. Hình 2. Sự thay đổi của điện trở suất và độ cảm từ phụ thuộc vào nhiệt độ của vật liệu. Tính chất chuyển pha xảy ra ở 26 K J. Am. Chem. Soc. 130 3296. Thật vậy, tính kim loại kém này giống như các chất siêu dẫn nhiệt độ cao bị pha tạp nhẹ - Haule giải thích thêm. Theo nhóm của Haule, điều này có nghĩa rằng các lý thuyết liên kết yếu – ví dụ lý thuyết thăng giáng spin – từng được giả thuyết trong quá khứ để mô tả các hợp chất cuprates sẽ không còn hữu ích để giải thích tính siêu dẫn trong các hợp chất LaOFeAs. Và các kết quả nghiên cứu thực nghiệm sơ bộ từ nhóm của Hosono rất phù hợp với những phát hiện này. Vật liệu siêu dẫn mới này cũng là một bằng chứng để chứng tỏ rằng tính siêu dẫn không bị hạn chế bởi các ôxit đồng và một vài hợp chất khác dựa trên Uranium U, Cerium Ce, Plutonium Pu. Mặc dù tính siêu dẫn có thể bị phá hủy bởi từ trường cao, nhưng khám phá đã chỉ ra rằng thậm chí nó có thể tồn tại trong các vật liệu có từ tính mạnh ví dụ như Sắt khi được bao quanh bởi các nguyên tử thích hợp, mà trong trường hợp này là As. Hơn nữa, hiệu ứng này có liên quan đến tính chất quỹ đạo của điện tử, mà thường bị bỏ quên trong các hợp chất cuprates, cũng có thể đóng vai trò quan trọng. Haule tin rằng loại vật liệu siêu dẫn mới này có thể cực kỳ quan trọng cho công nghệ nhưng vẫn rất cần nhiều nghiên cứu thêm trước khi nói gì một cách chắc chắn. Vạn lý Độc hành Theo & American Chemical Society, Vật lý Viêt Nam
Khoa họcỨng dụng Chủ nhật, 21/3/2021, 0700 GMT+7 Vật liệu kết hợp Niken và Sulfua được nhóm nghiên cứu Trung Quốc phát triển, có hiệu suất dẫn nhiệt lên tới 200%, biến nhiệt trong vài giây. Nhóm nghiên cứu Phòng Vật liệu Chức năng và Nghiên cứu Thiết bị, Học viện Khoa học và Công nghệ Trung Quốc hoàn thành thử nghiệm tính năng dẫn nhiệt và tự điều chỉnh nhiệt độ trong vật liệu kết hợp Niken và Sulfua NiS, có liên kết phân tử hình lục Yongsheng, chủ nhiệm nghiên cứu cho biết, khoảng 90% năng lượng được hình thành từ việc chuyển tiếp và sử dụng nhiệt. Vì vậy, việc kiểm soát khả năng dẫn nhiệt liên quan trực tiếp đến hiệu suất năng lượng, giảm phát thải, và phát triển bền vững. "Vật liệu siêu dẫn nhiệt với hiệu suất lên tới 200%, cao hơn nhiều so với vật liệu dẫn nhiệt chuyên dụng Nitinol", Zhong nói. Vật liệu NiS liên kết hình lục giác, có khả năng biến nhiệt trong vài giây. Ảnh Stdaily. Cụ thể, sau khi tính toán tối ưu cấu trúc dịch chuyển phân tử bên trong, nhóm cho một lượng bạc vào vật lượng NiS, đóng vai trò như lớp đệm chuyển tiếp có tác dụng giải phóng nhiệt và cải thiện độ bền và ổn định khi kết hợp các thành phần. Vật liệu này có thể "nhảy" từ nhiệt độ thấp có thể là độ âm lên đến nhiệt độ cao chỉ trong vài ưu điểm dễ tổng hợp, nguyên liệu thô thân thiện với môi trường, vật liệu có tiềm năng ứng dụng trong lĩnh vực năng lượng, chế tạo pin mặt trời. Khả năng dẫn nhiệt của NiS có thể thay thế một số vật liệu hỗ trợ chuyển hóa và duy trì năng lượng trong pin mặt dù tính dẫn nhiệt là yếu tố quyết định hiệu suất của vật liệu pin mặt trời, khả năng dẫn nhiệt đột ngột của vật liệu khiến nhóm nghiên cứu khó kiểm soát dòng nhiệt theo ý muốn. Ông Zhong cho biết, nhóm đang trong quá trình tìm cách điều khiển thời gian chuyển nhiệt của vật liệu Xuân Theo Science and Technology Daily
Thời sơ khai này, người ra mới biết một đặc tính của chất siêu dẫn, đó là nếu tuyển một dòng điện vào một mạch làm bằng chất liệu siêu dẫn thì dòng điện sẽ chạy trong đó mãi mà không suy giảm, vì nó không gặp một trở kháng nào trên đường đi, nghĩa là năng lượng điện không bị tiêu hao trong quá trình chuyển tải điện từ nơi này sang nơi khác. Đây được coi như một dạng chuyển động vĩnh cửu trong điện năng. Đặc tính trên, được gọi là Đặc tính riêng thứ nhất của chất siêu dẫn. Tính dẫn điện nghĩa là các điện tử tách ra khỏi nguyên tử của chúng và di chuyển trong cấu trúc tinh thể chất dẫn điện đồng, nhôm, sắt khi điện tử va chạm phải nguyên tử trên đường đi trong chất dẫn điện thì sinh ra điện trở làm tổn thất điện năng. Sự tổn thất ấy lên tới 15% và 20%. Như vậy, nếu ứng dụng chất siêu dẫn vào chuyển tải điện năng từ nhà máy điện đến người tiêu dùng, sẽ tiết kiệm được rất nhiều cho xã hội. Nhưng trở ngại là chất siêu dẫn chỉ xuất hiện khi ở nhiệt độ rất thấp, chỉ một vài độ trên không độ tuyệt đối 0 độ K, tức âm 273 độ C; cụ thể, nhiệt độ mà người ta đã ghi lại được ở chất siêu dẫn nêu trên là 23 độ K và phải dùng khí Helium hoá lỏng để làm lạnh, đó là một chất phức tạp và đắt tiền, đòi hỏi phải tìm ra những chất siêu dẫn mới, thích hợp, khắc phục nhược điểm trên. Hội Vật lý Mỹ American Physical Society Ảnh - Đến tháng 1/1986 tại Zurich, hai nhà khoa học Alex Muller và Georg Bednorz tình cờ phát hiện ra một chất gốm mà các yếu tố cấu thành là Lantan, Đồng, Bari, Oxit kim loại. Chất gốm này trở nên siêu dẫn ở nhiệt độ 35 độ K. Một thời gian ngắn sau, các nhà khoa học Mỹ lại phát hiện ra những chất gốm tạo thành chất siêu dẫn ở nhiệt độ tới 98 độ K. Điều quan trọng là chúng làm lạnh bằng Nitơ hoá lỏng. Đó là một thứ rẻ tiền và dễ thao tác hơn so với Helium lỏng. Người ta gọi đó là những chất siêu dẫn mới. Kết quả này kích thích các nhà khoa học đua nhau đi tìm chất gốm có đặc tính siêu dẫn ở nhiệt độ K ngày càng cao để mang lại sự thuận tiện và đỡ tốn kém khi ứng dụng siêu dẫn vào đời sống... - Năm 1987, Hội Vật lý Mỹ American Physical Society mở Hội nghị khoa học tại New York với sự hiện diện của nhiều nhà vật lý nổi tiếng Hoa Kỳ và nhiều nước trên thế giới. Người ta trao đổi đến những nét mới của siêu dẫn mà một trong số đó là hiện tượng những đĩa "gốm treo" lơ lửng trên các nam châm, người ta gọi đó là "hiệu ứng Meissner". Hiệu ứng này ngăn cản từ trường thâm nhập vào bề mặt chất siêu dẫn, vì thế, làm cho đĩa gốm tự nâng lên và lơ lửng trên các nam châm; nhưng nếu là một từ trường mạnh thì vẫn có thế thắng được sức đẩy, khi đó nó phá huỷ đặc tính siêu dẫn của vật liệu. Như vậy, những chất gốm siêu dẫn tỏ ra dễ bị ảnh hưởng bởi từ trường mạnh. Đồng thời, nguyên lý Magnetic Levitation maglev cũng được đề cập đến, nguyên lý này dựa vào từ trường do các tấm nam châm siêu dẫn sinh ra khi duy trì được nhiệt độ rất thấp. Ở nhiệt độ ấy, mọi trở kháng không còn nam châm trở thành siêu dẫn và tạo ra từ trường cực mạnh. Thí nghiệm nguyên lý Magnetic Levitation Ảnh replogle-globes Từ kết quả trên cùng với những nghiên cứu khác, người ta kết luận Những chất siêu dẫn nhiệt độ thấp có thể tạo ra những từ trường rất mạnh và gọi chung đó là đặc tính riêng thứ hai của siêu dẫn. Mọi chất siêu dẫn đều làm ra từ trường; mặt khác, dòng điện chạy trong chất siêu dẫn lại không gặp phải một kháng trở nào, do đó từ trường siêu dẫn sản sinh ra rất mạnh. Nhờ đó mà ngay nay, con người có thể tạo ra từ trường nhân tạo mạnh gấp tới 200 ngàn lần so với từ trường của Trái đất. - Cũng tại hội nghị khoa học này, các nhà khoa học còn thảo luận tới phát minh mới về chất siêu lỏng nó cũng hoạt động ở nhiệt độ rất thấp, tới giới hạn tối đa của độ âm và nó không có độ bám dính, nghĩa là không có ma sát, nếu tác động quay tròn, chúng sẽ không dừng lại. Đây cũng được coi như dạng một chuyển động vĩnh cửu trong chất lỏng. Từ những trình bầy trên, ta có thể định nghĩa Chất siêu dẫn là những chất tồn tại ở nhiệt độ cực thấp, khi dòng điện chạy qua không có kháng trở. Cả hai thứ siêu dẫn và siêu lỏng đều là những lĩnh vực hấp dẫn của vật lý đương đại, từ đây, người ta nhanh chóng nhận ra tiềm năng to lớn của chúng. Cũng phải nói thêm rằng, những năm về trước, người ta biết đến chất gốm siêu dẫn là một hỗn hợp cấu thành từ các kim loại, hợp kim, oxit kim loại như đồng Cu, niobium Nb... trong tương lai, chắc chắn còn tìm ra nhiều chất gốm siêu dẫn ưu việt khác nữa và nhiệt độ cấu thành lên nó ngày một cao. Cho đến nay, nhiệt độ cao nhất có thể đạt được với một chất gốm siêu dẫn mới là 125 độ K. Nhưng thực tế cho thấy, những chất gốm được tạo thành siêu dẫn ở nhiệt độ độ cao hơn 100 độ K lại tỏ ra không được ổn định vì nó nhanh chóng mất đi tính siêu dẫn. Đây là một trong những trở ngại lớn trên con đường chinh phục siêu dẫn. Sự phá huỷ đặc tính siêu dẫn khi ảnh hưởng bởi từ trường mạnh được giải thích như sau Đó là do "vòng xoáy từ" tức là những đường từ tính chuyển động bên trong chất liệu, như những xoáy nước đi trong dòng nước, những xoáy này di chuyển, tạo ra những điện trường ngăn chặn dòng điện di chuyển tự do, vì thế sinh ra mất tính siêu dẫn của vật liệu. - Ngoài những trở ngại như chất siêu dẫn chỉ xuất hiện ở nhiệt độ thấp, và chất siêu dẫn ở nhiệt độ cao hơn 100 độ K lại không ổn định; một trở ngại khác nữa đòi hỏi phải sớm vượt qua, đó là, chất siêu dẫn được làm nên dưới dạng một loại bột, có thể nén lại thành một chất rắn nhưng rất giòn. Để dễ ứng dụng, ta cần biến nó dưới dạng "một sợi dây", nhưng tính giòn làm cản trở cho ý đồ kỹ thuật này. Tuy nhiên, dựa vào công nghệ làm vi mạch, người ta bắt chước cách làm đó và tiến hành như sau Phun chất bột này thành một lớp mỏng lên nền một chất liệu khác gọi là đế tức là rải những yếu tố cấu thành gốm lên cái đế. Nhờ đó có thể tạo ra thành "dạng giây" và có thể uốn lượn đường dây theo ý muốn trên mặt phẳng. Tuy nhiên, không được bẻ cong vì dễ tạo ra sự đoản mạch. - Từ đặc tính riêng thứ hai của siêu dẫn đã mở ra nhiều hướng ứng dụng và các nhà công nghiệp tỏ ra hào hứng nhẩy vào cuộc săn tìm công nghiệp mới từ siêu dẫn. Họ hướng vào một số lĩnh vực ứng dụng chính sau + Dựa vào "nam châm siêu dẫn", người Nhật và người Đức thiết kế ra các đoàn tầu chạy trên đệm từ. Người Nhật đã thử nghiệm với khoảng 3 - 4 công nghệ tầu chạy trên đệm từ khác nhau, lấy tên là Maglev dựa theo thực hiện phép nâng điện - động lực học bằng cách tạo ra 2 từ trường đối nhau giữa các nam châm siêu dẫn đặt trên con tầu và những cuộn dây lắp trong đường ray hình chữ U bằng bê tông. High Một con tàu của Nhật ứng dụng hệ thống Speed Surface transport - HSST Ảnh bobbea Sau đây là một hình mẫu nhiều triển vọng nhất đã thử nghiệm đến lần thứ ba, có thông số kỹ thuật tầu chạy từ Tokyo đến Osaka cách nhau khoảng 500km, mục tiêu chở 100 khách chạy trong một giờ. Từ trường do nam châm siêu dẫn tạo ra cực mạnh đủ để nâng con tầu lên 10 cm khỏi đường ray. Đường ray có mặt cắt hình chữ U, trên nó có lắp 3 cuộn dây từ, được cung cấp điện bởi các trạm nguồn đặt dưới đất dọc đường tầu. Nam châm siêu dẫn đặt trên tầu và đặt trong những bình chứa Helium đã hoá lỏng, tạo ra nhiệt độ thấp là 269 độ dưới không độ, khi có dòng điện đi qua, sinh ra một từ trường khoảng 4,23 tesla nâng tầu bổng lên trong khung đường ray chữ U. Nhờ lực hút và lực đẩy xen kẽ giữa hai cực Nam - Bắc của cuộn giây và nam châm, con tầu cứ thế tiến lên phía trước. Điều khiển tốc độ nhờ điều chỉnh biến đổi tần số dòng điện trong cuộn dây từ 0 đến 50 Hz và điều chỉnh tốc độ từ xa tại trung tâm điều khiển. Để hãm tầu, người ta làm cách hãm như trên máy bay. Người Nhật đã phải vừa sản xuất vừa thử nghiệm trong 7 năm với kinh phí trên 3 tỷ USD. Hệ thống trên đôi khi còn được gọi là hệ thống "Vận tải trên bộ tốc độ cao" High Speed Surface transport - HSST. + Theo hướng công nghệ HSST này, người Đức chế tạo ra tầu "Transrapid" chạy trên đệm từ và cũng theo nguyên lý phát minh từ những năm 1960 theo công nghệ hơi khác người Nhật đôi chút, đó là phương pháp nâng điện từ nhờ tác động của những thanh nam châm đặt trên tàu, với những nam châm vô kháng chạy bên dưới và hai bên đường tầu hình chữ T. Ước vận tốc đạt 450 km/giờ chạy trên đường Berlin tới Hambourg, kinh phí khoảng 6 tỷ USD. Ngoài ra, người Pháp cũng đã và đang quan tâm đến vấn đề vận tải siêu tốc trên bộ bằng siêu dẫn. Nhà khoa học Alexei Abrikosov Ảnh hindu + Một ứng dụng quan trọng khác nữa là, có thể tạo ra được máy gia tốc mạnh để nghiên cứu đặc tính gốc của nguyên tử. Người ta dùng những nam châm cực mạnh để bẻ cong các chùm hạt, làm cho chúng chạy theo đường tròn để chúng va đập vào nhau, qua đó nghiên cứu những "mảnh" sinh ra do những va đập mạnh đó; người ta gọi đó là "siêu va đập siêu dẫn", dựa theo nguyên tắc này, các nhà khoa học Mỹ đang tiến hành xây dựng một "máy gia tốc cực mạnh" trong đường hầm dài 88 km ở bang Texec để nghiên cứu các hạt cơ bản của vật chất. - Đặc tính thứ ba của chất siêu dẫn là Nếu hai chất siêu dẫn được đặt gần nhau nhưng không chạm nhau thì các điện tử có thể nhảy qua như thể hai chất dẫn điện ấy tiếp xúc với nhau. Chỗ mà dòng điện nhẩy qua, người ta gọi là "khớp nối Josephson". Nhưng dòng điện chạy qua khớp nối ấy rất nhậy cảm với những biến đổi của điện trường và từ trường bên ngoài. Điều này giúp cho các nhà khoa học nẩy ra ý tưởng + Có thể ứng dụng để sản sinh ra máy đo điện trường hết sức chính xác. + Một ứng dụng quan trọng nữa từ đặc tính thứ ba này của chất siêu dẫn là có thể làm ra "cái ngắt mạch điện từ" giống như một tranzito. Cùng với đặc tính thứ nhất là dẫn điện mà không có thể làm ra được máy tính được nối với nhau bằng "giây siêu dẫn", nhờ đó sẽ làm nên được "máy tính điện tử siêu tốc" thế hệ mới phục vụ cho nghiên cứu không gian. Nhà khoa học Vitaly Ginzburg Ảnh derstandard + Ngoài ra, có thể ứng dụng khớp nối Josephson để sản xuất ra thiết bị y tế nhằm nghiên cứu những điện trường sinh học cực nhỏ do hoạt động của não người sinh ra, giúp cho việc chẩn đoán bệnh về não. Hoặc nhờ siêu nam châm, có thể chế tạo ra các máy quét MRI dùng trong y học quét ảnh bằng cách đo tiếng dội lại của âm thanh để khám các mô trong cơ thể người. + Cùng với những điều đã nói ở trên, người ta còn hy vọng những thành quả của siêu dẫn có thể áp dụng để tạo ra những thiết bị quan sát vì sao, hành tinh, hoặc bề mặt trái đất và giúp giải thích cơ chế của một số vật thể lạ trong vũ trụ, như những vì sao Neutron, những vật thể siêu rắn sót lại của những ngôi sao phát nổ trước khi tắt mà người ta nghĩ là có đặc tính xoay vòng tương tự với chất siêu dẫn lỏng... - Gần đây, các nhà khoa học Alexei Abrikosov, Vitaly Ginzburg Người Nga và Anthony Leggett người Mỹ gốc Anh đã đóng góp nhiều vào lĩnh vực lý thuyết siêu dẫn và mở ra nhiều hướng ứng dụng với công nghệ cao trong các lĩnh vực máy tính, truyền tải điện năng siêu hiệu quả... Những thành quả của họ được đánh giá là chất siêu dẫn thế hệ 2 và ba nhà khoa học đã được nhận giải Nobel về vạt lý vào năm 2003. Tuy nhiên, về mặt lý thuyết, người ta vẫn chưa thể giải thích được thoả đáng chất siêu dẫn thực tế hoạt động như thế nào? Nhà khoa học Anthony Leggett Ảnh perimeterinstitute mặc dù những hiện tượng vật lý của nó đã được biết đến không phải ít. - Nói về vật liệu siêu dẫn mới, ta không thể không đề cập tới thành công mới đây của người Nhật, đó là, các nhà khoa học thuộc Trường đại học Aoyama - Gakin ở Tokyo đã tìm ra vật liệu siêu dẫn từ phi kim loại như Magie Mg, hoặc Bo B... Điều làm cho nó trở nên rẻ tiền nữa là chất siêu dẫn trên chỉ làm việc ở nhiệt độ - 133 độ C. Nghĩa là còn ưu việt hơn cả Keramik của người Mỹ. Thành công này rất đáng trân trọng, bởi nó mở ra tìm chất bán dẫn từ phi kim loại là những vật liệu rẻ tiền, mà nhiệt độ để tạo thành chất siêu dẫn có thể chấp nhận được. - Ở nước ta, nghiên cứu về siêu dẫn cũng đã được các nhà khoa học của Trường đại học Tổng hợp Hà Nội trước đây, nay là Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện trong khoảng gần hai chục năm qua tác giả bài viết này 15 năm trước đây đã đến thăm phòng thí nghiệm trên. Các nhà khoa học của chúng ta làm lạnh bằng Nitơ lỏng và đã tạo ra được một số vật liệu siêu dẫn thuộc loại rẻ tiền. Tuy nhiên, do chưa có thị trường, hay đúng hơn là tiềm năng tài chính của đất nước còn hạn hẹp, nên lĩnh vực công nghệ cao này của ta chưa thể tiến xa được. Cũng tại Trường này, hướng "công nghệ nano" một lĩnh vực rất mới và đầy tương lai cũng được bắt nhịp rất sớm với thời đại. Những kinh phí vẫn là rào cản lớn nhất để phát triển những lĩnh vực đó. Hy vọng trở ngại này sớm được tháo gỡ.
Trang SciTechDaily hôm 6-7 cho biết công trình nghiên cứu về chất siêu dẫn mỏng nhất thế giới do một giáo sư của Học viện Công nghệ Massachusetts MIT - Mỹ và một nhà vật lý tại Phòng Thí nghiệm quốc gia Brookhaven thuộc Bộ Năng lượng Mỹ dẫn đầu. Họ sử dụng các thiết bị đo đạc mới chỉ được trang bị ở một số cơ sở trên thế siêu dẫn chỉ xuất hiện khi ở nhiệt độ rất thấp, chỉ một vài độ trên không độ tuyệt đối 0 độ K, tức -273 độ C. Vật liệu trong thí nghiệm nêu trên trở thành siêu dẫn ở nhiệt độ cao hơn một bậc so với các chất siêu dẫn thông thường - vốn chỉ hoạt động ở nhiệt độ khoảng -442 độ F -263 độ C. Tuy nhiên, sau 30 năm nghiên cứu, vẫn chưa có ai hiểu rõ về chất siêu dẫn nhiệt độ cao này. Công trình mới nhất được công bố trên tạp chí khoa học Nature Communications gần đây giúp trả lời những câu hỏi còn bỏ ngỏ, theo giáo sư trợ lý MIT Riccardo năm 2015, giới khoa học phát hiện một loại chất siêu dẫn nhiệt độ cao mới, đó là một tấm sắt selenide chỉ dày bằng một lớp nguyên tử có khả năng siêu dẫn ở -208 độ C. Từ đó, họ tìm cách giải mã bí mật của chất siêu dẫn mỏng nhất thế giới. Giáo sư Comin cho biết trong kim loại thông thường, các electron hoạt động giống như mọi người đang nhảy múa trong một căn phòng. Còn trong kim loại siêu dẫn, các electron chuyển động theo cặp giống như những cặp đôi trong một buổi khiêu vũ. Tất cả cặp này chuyển động đồng loạt như thể chúng là một phần của "vũ đạo lượng tử", cuối cùng dẫn đến một loại chất điện tử siêu giả chính bản nghiên cứu sử dụng thiết bị tán xạ tia X để khám phá bí mật về chất siêu dẫn mỏng nhất thế giới Jonathan Pelliciari. Ảnh SCITECHDAILY"Chất keo" giữ những cặp electron này lại với nhau có nguồn gốc từ chuyển động của các nguyên tử bên trong vật liệu. Giới khoa học đưa ra giả thuyết rằng chất keo này liên quan đến một thuộc tính điện tử gọi là "spin" - có thể được xem như một nam châm cơ bản. Trong một chất siêu dẫn nhiệt độ cao, các electron có thể nhận một phần năng lượng từ các spin này, được gọi là kích thích spin. Năng lượng đó là "chất keo" mà chúng sử dụng để kết đến nay, hầu hết các nhà vật lý đều nghĩ rằng sẽ không thể phát hiện hoặc đo được kích thích spin trong một vật liệu chỉ dày bằng một lớp nguyên tử. Công trình được công bố trên tạp chí Nature Communications là thành tích đáng nể. Các nhà vật lý không chỉ phát hiện kích thích spin mà còn tìm thấy động lực quay trong mẫu siêu mỏng khác biệt đáng kể so với trong mẫu lớn hơn. Cụ thể, năng lượng của spin dao động trong mẫu siêu mỏng cao hơn nhiều - 4 hoặc 5 lần - so với năng lượng của spin mẫu lớn trình nghiên cứu mới dự kiến sẽ giúp ích cho các lĩnh vực chẩn đoán y tế, tính toán lượng tử và vận chuyển năng lượng bởi tất cả lĩnh vực này đều sử dụng chất siêu dẫn. Nhà khoa học Valentina Bisogni - người không tham gia vào nghiên cứu trên - thừa nhận "Sự hiểu biết về hiện tượng siêu dẫn khác thường là một trong những thách thức chính mà giới khoa học ngày nay phải đối mặt. Khám phá gần đây về tính siêu dẫn ở nhiệt độ cao trong một màng mỏng khiến mọi người quan tâm hơn đến sắt selenide. Nó cung cấp lộ trình mới để nghiên cứu cơ chế tạo ra hiện tượng siêu dẫn nhiệt độ cao".
Chế tạo và nghiên cứu tính chất quang của vật liệu dẫn sóng trên nền silica biến tính ... gần nghiên cứu tập trung tìm kiếm vật liệu dẫn sóng quang planar tích cực nhằm chế tạo linh kiện tích cực cho mạng thông tin quang 2 Mục đích luận án Chế tạo v nghiên cứu tính chất quang vật liệu ... 281-286 Gồm vật liệu Bán dẫn, thuỷ tinh, vật liệu hữu cao phân tử, vật liệu lai hữu v vô Một số phơng pháp chế tạo vật liệu dẫn sóng planar Có nhiều phơng pháp để chế tạo vật liệu dẫn sóng, nh ... u chế tạo mng Chơng Chế Tạo v Kĩ thuật thực nghiệm nghiên cứu tính chất vật liệu dẫn sóng sở Silica/ Titania Silica/ Zirconia 21 Silica/ Zirconia SiO2/ZrO2 Quá trình thực nghiệm chế tạo vật liệu... 16 750 0 Nghiên cứu tính chất quang của vật liệu và đo tính chất quang xúc tác nhằm ứng dụng trong môi trường ... phương pháp quang phổ để nghiên cứu tính chất quang vật liệu nghiên cứu ứng dụng, đặc biệt ứng dụng quang xúc tác y sinh Trong nghiên cứu chúng tơi dùng phương pháp quang phổ hấp thu, phát quang, ... quang, X-Ray, Raman,… để nghiên cứu tính chất quang vật liệu đo tính chất quang xúc tác nhằm ứng dụng mơi trường SVTH Dương Thanh Tài Luận văn tốt nghiệp GVHD TS Lâm Quang Vinh Chương 1 Tổng ... GVHD TS Lâm Quang Vinh Quang xúc tác Do hạn chế thiết nghiên cứu photonics, chúng tơi tiến hành nghiên cứu đo hiệu ứng quang xúc tác nano bán dẫn CdSe Hoạt tính quang xúc tác đánh giá... 57 426 0 Phổ tổn hao năng lượng eels và ứng dụng trong nghiên cứu vi cấu trúc của vật liệu nanô luận văn thạc sỹ vật lý ... trỳc ph tn hao nng lng EELS - Nghiờn cu k thut ph tn hao nng lng EELS thc hin trờn kớnh hin vi in t truyn qua TEM - Phõn tớch vi cu trỳc ca mt s vt liu nano bng k thut EELS kt hp vi cỏc k thut ... EELS khỏc, vớ d nh ph EELS phn x Reflection EELS - REELS s dng vi chựm in t nng lng t 10KeV 30 KeV, phộp phõn tớch ph EELS phõn gii cao HREELS - High resolution EELS vi chựm in t nng lng ... 26 Kt lun chng Trong chng nay, chung tụi a tỡm hiu c khỏi nim ph tn hao nng lng EELS v cu trỳc ph tn hao nng lng EELS gm ba vựng Vựng khụng tn hao nng lng zero - loss Vựng tn hao nng lng thp... 33 771 7 Chế tạo và nghiên cứu tính chất quang của vật liệu nano zno ... thuộc vào điều kiện chế tạo Vật liệu ZnO kích thước nano có lượng liên kết exciton lớn so với kích thước khối 60 meV nhiệt độ phòng, vật liệu triển vọng cho thiết bị lade nhiệt độ phòng Nhờ vào ... rửa kết tủa H2O khử ion C2H5OH ta thu ZnO nano Chế tạo hạt nano kim loại Au phương pháp hóa khử Trong quy trình chế tạo hạt nano kim loại vàng sử dụng hóa chất 25mM, dung dịch ... nghiệm thuộc Bộ môn Vật lý Đại cương Trung tâm Khoa học Vật liệu trình chế tạo mẫu chia làm hai giai đoạn sau Giai đoạn 1 Chế tạo hạt ZnO nano Cho 1,1g ZnCH3COO vào cốc thí nghiệm... 6 1,223 17 nghiên cứu tính ứng xử của vật liệu trực hướng ... cho vật liệu "cứng dẻo" nên độ biến dạng theo phơng Z coi không Tính ứng xử vật liệu trực hớng Hình P3 Cửa sổ thêm vật liệu Hình P4 Cửa sổ nhập độ biến dạng cho vật liệu Tính ứng xử vật liệu ... phơng cán vật liệu Các kết nghiên cứu lý thuyết thực nghiệm chứng tỏ đề xuất ông hoàn toàn có sở Luận văn với đề tài Nghiên cứu tính ứng xử vật liệu trực hớng nhằm mục đích nghiên cứu, xây dựng ... Hình Tính ứng xử vật liệu trực hớng Hình ảnh hởng biến dạng trớc vùng thắt tới đờng cong biến dạng hình thành Tính ứng xử vật liệu trực hớng Kết luận Từ đờng cong ứng suất giới... 53 1,081 3 Chế tạo và nghiên cứu tính chất quang của vật liệu Nanô Y2O3 Eu Tb. Er, Yb ... chế tạo ôxit Y2O3, Y2O 3 Eu Eu2O3 kích thớc nanô theo phơng pháp keo tụ trực tiếp, tiến hành chế tạo loạt hệ keo nanô Y2O3 chứa ion đất khác nh Y2O 3 Tb, Y2O 3 Eu, Tb, Y2O 3 Tm, Y2O 3 Er, Y2O 3 Er ,Yb ... nghiệm Chế tạo nghiên cứu tính chất quang vật liệu nanô Y2O 3 Eu, Tb, Er, Yb Luận án đợc thực Phòng Vật lý Hoá học vật liệu quang học đại, Phòng Vật liệu Quang Điện tử, Viện Khoa học Vật liệu, ... 3, 4 ion Eu3 + mẫu nanô Y2O 3 Eu Eu2O3 chế tạo phơng pháp keo tụ trực tiếp, mẫu nanô ZnO /Y2O 3 Eu đợc quan sát Hiệu ứng chuyển đổi ngợc vật liệu nanô Y2O 3 Er, Y2O 3 Er ,Yb sử dụng để chế tạo thẻ hiển... 28 817 0 nghiên cứu tính chất quang của vật liệu chế tạo và mô phỏng một vài thông số trong pin mặt trời hữu cơ ... đến môi trường Với lý lựa chọn thực khóa luận “Khảo sát tính chất quang vật liệu chế tạo mô vài thông số pin mặt trời hữu ” a Nội dung nghiên cứu - Tính chất quang, điện vật liệu chế tạo pin mặt ... NGHỆ Nguyễn Văn Giang NGHIÊN CỨU TÍNH CHẤT QUANG CỦA VẬT LIỆU CHẾ TẠO VÀ MÔ PHỎNG MỘT VÀI THÔNG SỐ TRONG PIN MẶT TRỜI HỮU CƠ KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY Ngành Vật Lý Kỹ Thuật Cán ... nhìn tổng quan pin mặt trời, tính chất quang vài vật liệu phổ biến sử dụng để chế tạo pin mặt trời hữu cơ, mô phân bố từ trường ánh sáng, suy hao lượng ánh sáng pin hoạt động Một số pin có cấu trúc... 55 1,682 1 Chế tạo và nghiên cứu tính chất quang của vật liệu nano ZnO ... rãi nên vật liệu ZnO chọn đối tượng để tổng hợp nghiên cứu luận văn tôi Chế tạo nghiên cứu tính chất quang vật liệu nano ZnO Trong luận văn này, trình bày phương pháp chế tạo nano ZnO phương ... chiều -Vật liệu nano hai chiều vật liệu chiều có kích thước nano, ví dụ,màng mỏng, đĩa nano, -Vật liệu nano chiều vật liệu hai chiều có kích thước nano, ví dụ,dây nano, ống nano, - Vật liệu nano ... chiều đan xen lẫn *Phân loại theo tính chất vật liệu thể khác biệt kích thước nano vật liệu nano kim loại, vật liệu nano bán dẫn, vật liệu nano từ tính, vật liệu nano sinh học *Nhiều người ta phối... 63 1,689 3 Nghiên cứu tính chất quang của vật liệu TiO2 pha tạp SnO2 bằng các phương pháp quang phổ ... gel, phương pháp cho độ tinh khiết cao pha tạp với nồng độ cao [???/] Sau dùng phương pháp quang phổ để nghiên cứu tính chất quang vật liệu TiO2 pha tạp SnO2 SVTH Huỳnh Chí Cường Khóa luận tốt ... tiền khó pha tạp N với nồng độ cao Để khắc phục hạn chế vật liệu TiO có tính quang xúc tác tốt vùng ánh sáng khả kiến, tổng hợp màng bột TiO pha tạp với SnO2 phương pháp sol gel, phương pháp cho ... CBHDTS Lâm Quang Vinh MỞ ĐẦU Vật liệu TiO2 chất bàn dẫn có tính quang xúc tác mạnh việc ứng dụng môi trường, có nhiều công trình, nước nghiên cứu vật liệu [??] Chỉ việc chiếu sáng, nhà nghiên cứu nhận... 72 1,280 0 Nghiên cứu tính chất quang của vật liệu TiO2 nhằm ứng dụng trong quang xúc tác vùng ánh sáng khả kiến ... chiếu sáng vào bề mặt điện cực có phủ màng TiO mở hướng nghiên cứu khả ứng dụng vật liệu TiO sống Với tính chất quang xúc tác tuyệt vời, khả ơxi hố cao giá thành rẻ, vật liệu TiO nghiên cứu ứng dụng ... Đó lí chúng tơi chọn đề tài Nghiên cứu tính chất quang vật liệu TiO2 nhằm ứng dụng quang xúc tác vùng ánh sáng khả kiến Chúng tơi tiến hành tổng hợp màng bột TiO2 pha tạp với SnO2 Fe3+ phương ... lên hoạt tính quang xúc tác Khối lượng chất xúc tác lớn hoạt tính quang xúc tác cao, khả khử chất hữu mạnh Tuy vậy, đến lúc nào, có bão hòa nồng độ chất xúc tác, hoạt tính quang xúc tác ngưng... 81 630 0 Chế tạo và nghiên cứu tính chất từ của vật liệu nano tổ hợp fe3o4 – GO ... văn nghiên cứu chế tạo khảo sát đặc tính vật liệu nano tổ hợp Fe3O4 – GO Mục đích nghiên cứu Chế tạo nghiên cứu tính chất vật liệu Fe3O4 – GO Ứng dụng vật liệu nano tổ hợp Fe3O4 – GO chế tạo ... thái học vật liệu Fe3O4 – GO 58 Khảo sát tính chất từ vật liệu Fe3O4 – GO 63 So sánh mẫu Fe3O4 Fe3O4 – GO 64 Hình dạng, cấu trúc tính chất từ Fe3O4, Fe3O4 - GO 64 ... - Kết thảo luận Chương - TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU NANO TỔ HỢP Fe3O4 - GO Tổng quan vật liệu nano từ tính Fe3O4 Oxit sắt từ có công thức Fe3O4 magnetite vật liệu từ tính mà người biết đến Thế... 89 1,342 9 NGHIÊN CỨU TÍNH CHẤT QUANG CỦA VẬT LIỆU CHẾ TẠO VÀ MÔ PHỎNG MỘT VÀI THÔNG SỐ TRONG PIN MẶT TRỜI HỮU CƠ ... đến môi trường Với lý lựa chọn thực khóa luận “Khảo sát tính chất quang vật liệu chế tạo mô vài thông số pin mặt trời hữu ” a Nội dung nghiên cứu - Tính chất quang, điện vật liệu chế tạo pin mặt ... NGHỆ Nguyễn Văn Giang NGHIÊN CỨU TÍNH CHẤT QUANG CỦA VẬT LIỆU CHẾ TẠO VÀ MÔ PHỎNG MỘT VÀI THÔNG SỐ TRONG PIN MẶT TRỜI HỮU CƠ KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY Ngành Vật Lý Kỹ Thuật Cán ... nhìn tổng quan pin mặt trời, tính chất quang vài vật liệu phổ biến sử dụng để chế tạo pin mặt trời hữu cơ, mô phân bố từ trường ánh sáng, suy hao lượng ánh sáng pin hoạt động Một số pin có cấu trúc... 54 553 2 Nghiên cứu các tính chất của vật liệu perovskite ABO3 kích thước nanômét A = La, Sr, Ca và B = Mn tổng hợp bằng phương pháp nghiền phản ứng ... thiện kết nghiên cứu thu ban đầu lựa chọn đề tài Luận án Nghiên cứu tính chất vật liệu perovskite ABO3 kích thước nanômét A = La, Sr, Ca B = Mn tổng hợp phương pháp nghiền phản ứng Mục tiêu luận ... Chương CÁC TÍNH CHẤT VẬT LÝ CƠ B N CỦA CÁC HẠT NANO TỪ Chương CÁC KỸ THUẬT THỰC NGHIỆM Chương TỔNG HỢP VẬT LIỆU PEROVSKITE ABO3 B NG PHƯƠNG PHÁP NGHIỀN PHẢN ỨNG VÀ CÁC ĐẶC TRƯNG Chương ẢNH HƯỞNG CỦA ... HƯỞNG CỦA KÍCH THƯỚC HẠT TỚI TÍNH CHẤT TỪ TRONG CÁC HỆ HẠT NANO La 0,7A0,3MnO3 A = Sr, Ca Chương QUAN HỆ GIỮA TÍNH CHẤT TỪ VỚI TÍNH CHẤT DẪN ĐIỆN VÀ TÍNH CHẤT ĐỐT NÓNG CẢM ỨNG CỦA La0,7SrxCa0,3-xMnO3... 142 610 1
Vật liệu siêu dẫn chất siêu dẫn là những chất gây nên hiện tượng siêu dẫn trong vật lí học hiện đại hiện tượng siêu dẫn là một hiện tượng lượng tử.Các nhà nghiên cứu đến từ đại học Cambridge mới đây đã tạo ra một loại vật liệu siêu dẫn nhiệt độ cao với khả năng tạo ra một từ trường có độ lớn 17,6 Tesla, phá vỡ kỷ lục được thiết lập trong phòng thí nghiệm cách đây một thập kỷ. Trái đất là một nam châm khổng lồ từ trường của nó khá yếu vào khoảng 0,00005 TeslaVật liệu siêu dẫn, hiện tượng siêu dẫn, tàu điện từLịch sử phát triển vật liệu siêu dẫnNăm 1911, nhà vật lí Heike Kamerlingh Onnes làm thí nghiệm với thủy ngân kim loại ở thể lỏng duy nhất trong bảng hệ thống tuần hoàn hóa học Ông nhận thấy điện trở suất của thủy ngân phụ thuộc vào nhiệt độ khác hẳn với các kim loại khác. Khi nhiệt độ xuống tới TKết nối với nguồn điện sau đó ngắt mạnh ông nhận thấy rằng cường độ dòng điện được duy trì trong thời gian rất lâu=> ở trạng thái điện trở suất bằng không kim loại trở nên dẫn điện tuyệt đối => hiện tượng trên được gọi là hiện tượng siêu dẫn, thủy ngân được gọi là chất siêu dẫn, đặc tính trên được gọi là đặc tính riêng thứ nhất của chất siêu nhiệt độ 4,1K tương đương -268,9oC với nhiệt độ quá thấp như vậy hầu như trong thực tiễn không thể xảy ra được hiện tượng siêu tượng siêu dẫnVào cuối những năm 1980, các nhà khoa học tiếp tục tìm ra một lớp vật liệu mới sở hữu các đặc tính siêu dẫn ở nhiệt độ tối đa 130 độ K. Đây được gọi là các vật liệu siêu dẫn nhiệt độ cao HTS và rất có tiềm năng với các ứng dụng thực tế bởi chúng có thể được làm lạnh với nitơ lỏng thay vì heli lỏng, qua đó vật liệu dễ chế tạo và chi phí vận hành cũng rẻ hơn. Tuy nhiên ở vật liệu siêu dẫn ở nhiệt độ trên 100K thường mất ổn định và nhanh chóng mất đi tính chất siêu 1986, Georg Bednorz và Alex Müller đã phát hiện ra một vật liệu mới khi cấy bari doping vào oxit latha-đồng, vốn là một chất cách điện, thì nó trở thành siêu dẫn ở nhiệt độ thấp hơn 36K. Một loạt các vật liệu có cấu trúc tương tự với nhiệt độ chuyển pha cao hơn đã được tìm thấy sau phát hiện này; như oxit yttrium-barium-đồng YBCO với nhiệt độ chuyển pha lớn hơn nhiệt độ của nitơ lỏng, mở ra khả năng cho những ứng dụng mới. Nhiệt độ chuyển pha cao nhất đạt được hiện nay là 134KHgBa2Ca2Cu3O8, năm 1993.Năm 1987, tại Hội nghị khoa học tại New York các nhà khoa học đã thảo luận về những đặc mới của chất siêu dẫn trong số đó là hiện tượng những đĩa gốm treo lơ lửng trên các nam châm, người ta gọi đó là “hiệu ứng Meissner”.Hiệu ứng này ngăn cản từ trường thâm nhập vào bề mặt chất siêu dẫn, làm cho đĩa gốm tự nâng lên và lơ lửng trên các nam châm; nhưng nếu là một từ trường mạnh thì vẫn có thế thắng được sức đẩy, khi đó nó phá huỷ đặc tính siêu dẫn của vật vậy, những chất gốm siêu dẫn tỏ ra dễ bị ảnh hưởng bởi từ trường mạnh. Đồng thời, nguyên lý Magnetic Levitation viết gọn thành maglev Các chất siêu dẫn có thể tạo ra từ trường mạnh, từ đó tạo ra lực từ giúp nâng các vật chống lại lực hấp dẫn =>Đặc tính riêng của thứ hai của chất siêu dẫn là tạo ra từ trường mạnhVideo thí nghiệm chất siêu dẫn ở nhiệt đọ -196oC tạo ra từ trường mạnh hiệu ứng Meissner và nguyên lý Cơ chế nâng tầu bằng lực từTàu siêu tốc chạy trên đệm từ Magnetic levitation transport là một loại phương tiện giao thông di chuyển trên các đệm từ trường, Tàu đệm từ được nâng lên, đẩy tới, hãm bởi các lực chế đẩy tàu đi bằng lực từDo chuyển động trên lớp đệm không khí sinh ra bởi từ trường đối nghịch nhau của các nam châm lắp đặt tại thân tàu và đường ray nên giảm thiểu tối đa ma sát khiến vận tốc của các tàu siêu tốc đệm từ có thể đạt tới vận tốc rất lớn.21/04/2015 Tàu đệm từ của công ty Đường sắt Nhật Bản vừa xác lập kỷ lục thế giới khi di chuyển với vận tốc 603 km/h trên đoạn đường thử nghiệm ở tỉnh Yamanashi. Theo kế hoạch, tàu đệm từ thế hệ mới sẽ phục vụ nhu cầu đi lại của hành khách từ Tokyo tới thành phố Nagoya và ngược lại. Tuyến đường sẽ đi vào hoạt động trong năm 2027, giảm thời gian di chuyển từ 5 tiếng bằng ôtô xuống 40 phút nhờ tàu đệm thử nghiệm tàu siêu tốc chạy trên đệm từ của Nhật Bản
vật liệu siêu dẫn nhiệt độ cao